Tìm hiểu chung

Tác giả Tô Hoài

 

Nhà văn Tô Hoài (1920 – 2014)

Tiểu sử

  • Tô Hoài (1920 – 2014), tên khai sinh là Nguyễn Sen.
  • Quê nội của ông ở thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội) nhưng ông sinh ra và lớn lên tại quê ngoại: làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông.
  • Sinh ra trong một gia đình làm thợ thủ công. Khi còn trẻ, ông đã phải kiếm sống bằng rất nhiều nghề khác nhau như làm gia sư, bán hàng, làm kế toán,… và nhiều khi thất nghiệp.
  • Tô Hoài bước vào con đường văn học bằng một số bài thơ có tính chất lãng mạn và một cuốn truyện vừa viết theo dạng võ hiệp. Nhưng sau đó, ông đã chuyển hướng sang văn xuôi hiện thực và được chú ý ngay từ tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký.
  • Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông làm báo và hoạt động văn nghệ ở Việt Bắc.
  • Sau hơn sáu mươi năm hoạt động nghệ thuật, ông đã có một số lượng tác phẩm đạt kỉ lục trong nền văn học hiện đại Việt Nam gồm nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, tự truyện, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác.
  • Những tác phẩm của ông luôn hấp dẫn người đọc bằng lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động của một người từng trải.

Các giải thưởng

  • Giải nhất Tiểu thuyết của Hội Văn nghệ Việt Nam 1956 (Truyện Tây Bắc)
  • Giải A Giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội 1970 (tiểu thuyết Quê nhà)
  • Giải thưởng của Hội Nhà văn Á-Phi năm 1970 (tiểu thuyết Miền Tây)
  • Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật (đợt 1 – 1996) cho các tác phẩm: Xóm giếng, Nhà nghèo, O chuột, Dế mèn phiêu lưu ký, Núi Cứu quốc, Truyện Tây Bắc, Mười năm, Xuống làng, Vỡ tỉnh, Tào lường, Họ Giàng ở Phìn Sa, Miền Tây, Vợ chồng A Phủ, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ.
  • Giải Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội 2010

Các tác phẩm tiêu biểu

  • Dế Mèn phiêu lưu ký (truyện, 1941)
  • Quê người (tiểu thuyết, 1942)
  • Truyện Tây Bắc (tập truyện, 1953)
  • Cát bụi chân ai (hồi ký, 1992)
  • Chiều chiều (tự truyện, 1999)

Tác phẩm Vợ chồng A Phủ

  • Truyện ngắn được in trong tập Truyện Tây Bắc.
  • Truyện được tặng giải Nhất – Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955.

Hoàn cảnh sáng tác

  • Năm 1952, Tô Hoài theo bộ đội vào giải phóng Tây Bắc.
  • Trong chuyến đi này, ông đã có cơ hội được sống và gắn bó với đồng bào dân tộc ở vùng cao Tây Bắc.
  • Chính cuộc sống nơi đây đã khơi nguồn cảm hứng cho Tô Hoài viết nên Cứu đất cứu mường, Mường Giơn, Vợ chồng A Phủ. 

Tóm tắt

Ngày xưa, bố Mị lấy mẹ Mị nhưng không có tiền cưới, phải đến vay ở nhà thống lí Pá Tra và mỗi năm phải nộp lãi một nương ngô. Nhưng cho đến khi người vợ chết cũng vẫn chưa trả được hết nợ. Tết năm đó, Mị bị lừa, bắt cóc về nhà thống lí Pá Tra làm vợ A Sử. Mị trở thành con dâu gạt nợ. Cuộc sống của Mị đã khổ nay càng khổ hơn khi phải liên tục làm việc quần quật. Mị toan tự tử bằng lá ngón nhưng vì thương cha nên Mị không đành. Trong một đêm xuân, Mị thấy lòng mình phơi phới. Cô bèn sửa soạn váy áo chuẩn bị đi chơi xuân. A Sử phát hiện, bèn trói Mị vào cột bằng một thúng sợi đay. 

 

A Phủ bị phạt vạ một trăm đồng bạc nên đành phải ở cho nhà thống lí để trả nợ. Một ngày nọ, vì ham mê bẫy chim nên A Phủ đã làm mất một con bò. Thống lí đã trói anh vào một cây cột trong góc nhà bằng dây mây quấn từ chân đến vai. Sau mấy ngày đêm chiu đói khát, chịu rét, A Phủ được Mị cắt dây trói và họ bỏ trốn cùng nhau. Hai người thành vợ chồng và trốn sang Phiềng Sa. Tại đây, họ gặp A Châu, một cán bộ Đảng, và trở thành tiểu đội trưởng đội du kích, cùng nhau đánh Pháp bảo vệ quê hương.

Đọc – hiểu văn bản

Nhân vật Mị

Trước khi làm dâu nhà thống lí Pá Tra

  • Mị là một người con gái hồn nhiên, trẻ trung và có tài thổi sáo:
    • “Ngày trước, Mị thổi sáo rất giỏi.”
    • “Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo.”
  • Mị đã từng được rất nhiều người theo đuổi:
    • “Trai đứng đến nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị.”
    • “Có biết bao người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị.”
  • Mị cũng được yêu, được đi theo tiếng gọi con tim mình:Một đêm khuya, Mị nghe tiếng gõ vách. Tiếng gõ vách hò hẹn của người yêu. Mị hồi hộp lặng lẽ quơ tay lên thì gặp hai ngón tay lách vào khe gỗ, sợ một ngón thấy có đeo nhẫn. Người yêu của Mị thường đeo nhẫn ngón tay ấy. Mị bèn nhấc tấm vách gỗ. Một bàn tay dắt Mị bước ra.”
  • Mị là một người con gái cần cù, chăm chỉ lao động và có thể làm được rất nhiều công việc khác nhau: 
    • “Lên núi hái thuốc phiện”
    • “Giặt đay, xe đay”
    • “Đi nương bẻ bắp”
  • Mị là một người con hiếu thảo: 
    • Khi Mị đã lớn, nhà thống lí đề nghị sẽ xóa nợ nếu ông để Mị về làm dâu. Ông chưa biết nói như thế nào với Mị thì Mị đã bảo với bố rằng: “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố.”
    • Mị toan tự tử, nhưng vì thương bố ốm yếu, không nỡ để bố chịu khổ nên cô đành trở lại nhà thống lí: “Mị ném nắm lá ngón xuống đất, nắm lá ngón Mị đã tìm hái trong rừng, Mị vẫn giấu trong áo. Thế là Mị không đành lòng chết. Mị chết thì bố Mị còn khổ hơn bao nhiêu lần bây giờ nữa.”

⇒ Tô Hoài đã gửi gắm tất cả tình yêu Tây Bắc của mình để khắc họa nên nhân vật Mị, một nhân vật hội tụ đầy đủ các đức tính tốt đẹp. Mị là một người con gái hồn nhiên, xinh đẹp và có tài thổi sáo. Cô có một tâm hồn tràn ngập tình yêu và niềm tin về một cuộc sống tự do, một tương lai tươi sáng. Cô là một người con của núi rừng Tây Bắc. Nhưng trớ trêu thay, từ lúc sinh ra, cô đã phải mang trên mình một món nợ. Cô không có quyền tự quyết định số phận của chính mình.

Khi mới về làm dâu nhà thống lí Pá Tra

  • Mị vẫn còn trẻ, vẫn còn biết bao nhiêu hoài bão, niềm tin vào tương lai của mình. Nhưng đáng tiếc thay, cô không có quyền tự quyết định số phận của mình. Ngay từ lúc sinh ra, Mị đã phải mang trên vai món nợ từ đời cha mẹ mình. Cô bị bắt vào làm dâu nhà thống lí Pá Tra để trừ lại món nợ ấy.
  • Theo phong tục hôn nhân của đồng bào người Mông: Để thể hiện tình cảm cũng như sự mạnh mẽ, quyết đoán của người con trai. Anh sẽ cùng bạn bè bí mật “cướp” người con gái mang về nhà mình rồi sau đó mới đến trình báo cho bố mẹ của cô gái. Trong đêm xuân, A Sử lợi dụng việc Mị ra gặp người yêu để tổ chức bắt cóc cô về làm vợ nhà mình.
  • Mị trở thành con dâu gạt nợ của nhà thống lý Pá Tra. Cô đã bị “cúng trình ma” nhà thống lí trong “tiếng nhạc sinh tiền đương rập rờn nhảy múa.” 
  • Nhà thống lí Pá Tra nổi tiếng là giàu có: “ăn của dân nhiều, đồn Tây lại cho muối về bán, giàu lắm, nhà có nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng.” Người ngoài nhìn vào, ai cũng nghĩ Mị sẽ sung sướng lắm, “sẽ còn bao giờ mà phải xem cái khổ mà biết khổ, mà buồn”. Nhưng đáng tiếc thay, Mị bị bóc lột sức lao động nặng nề, bởi lẽ: “đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày.’
  • Mị trở nên buồn khổ, đau đớn. Trên gương mặt cô lúc nào cũng hiện hữu một nỗi buồn rười rượi: “Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy một cô con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi.” 
  • Mị trở nên tuyệt vọng khi phải chịu nhiều đau khổ đến vậy. Mị từng hái lá ngón, toan nhai rồi tự tử. Nhưng vì thương bố ốm yếu, không thể nào làm nương để trả nợ nên đành trở về nhà thống lí.

Khi đã quen với việc làm dâu nhà thống lí Pá Tra

Tâm hồn Mị trở nên chai lì, tê liệt sau khi đã ở lâu trong cái khổ:

  • “Lần lần, mấy năm qua, bố Mị chết.  Nhưng Mị cũng không còn tưởng đến Mị có thể ăn lá ngón tự tử nữa.”
  • “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen rồi”.
  • Mị tự ví mình như con trâu, con ngựa: “Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi.”
  • Mị càng thu mình lại: “Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa.”
  • Mị không màng đến thời gian: “Ở cái buồn Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi.”

Sức sống tiềm tàng mãnh liệt trong Mị 

  • Tưởng chừng như Mị đã buông xuôi, sức sống mãnh liệt trong con người vẫn còn tồn tại. Mị định tự tử bằng lá ngón vì cô không chấp nhận một kiếp sống mất tự do.
  • Kể từ cái mùa xuân của trời đất, tâm lí của Mị dần có sự chuyển biến và sức sống cũng dần dần được khơi dậy:
    • Mị nghe tiếng sáo gọi bạn từ xa vọng lai. Cô lẩm nhẩm thầm bài hát của người đang thổi:

 

Mày có con trai con gái rồi

Mày đi làm nương

Ta không có con trai con gái

Ta đi tìm người yêu

    • “Ngày Tết, Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát.” → Lòng Mị đang sống về ngày trước, những ngày thanh xuân tươi đẹp tràn đầy khao khát hạnh phúc.
    • “Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị còn trẻ. Mị muốn đi chơi.”
    • Mị dần phản kháng lại. Mị thắp đèn để thoát ra khỏi căn phòng tối tăm, sửa soạn quần áo chuẩn bị đi chơi Tết:
      • “Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng.”
      • “Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo.”
      • “Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách.”
    • Khi bị trói, Mị vẫn đứng yên lặng như không biết mình đang bị trói. “Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi.”

 

Em không yêu, quả pao rơi rồi. Em yêu người nào, em bắt pao nào.

    • Nhưng Mị chợt vùng tỉnh. “Mị vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cựa được.” Mị tự nhận thức được cuộc sống thực tại đầy đau khổ của mình. Lúc bấy giờ, tiếng sáo đã đi qua, chỉ còn “tiếng chân ngựa đạp vào vách ở lại với Mị. Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa.”

⇒ Qua đêm tình mùa xuân, sức sống của Mị dần trỗi dậy sau những ngày ngủ yên. Mị nhớ những đêm tình mùa xuân của ngày cũ. Lòng Mị trở nên phơi phới và muốn được đi chơi Tết như biết bao người con gái khác. Trước kia, Mị chỉ biết chấp nhận số phận, chấp nhận những sự đau khổ mà cuộc đời mang đến cho Mị. Nhưng lúc này thì không. Mị biết đứng lên phản kháng, Mị biết tự quyết định số phận và làm những gì mình thích. Nhưng tiếc thay, cuối cùng, Mị vẫn phải trở về với thực tại. A Sử đã ngăn cản ước mong được đi chơi Tết của Mị. Hắn trói Mị vào góc cột nhà bằng một thúng sợi đay. Ngay lúc này, Mị trở nên đau đớn và hụt hẫng đến vô cùng. 

  • Sức sống mãnh liệt của Mị trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết được thể hiện từ khi Mị gặp A Phủ:
    • Lúc đầu gặp A Phủ, Mị rất dửng dưng và không quan tâm đến anh: “Mỗi đêm, khi nghe tiếng phù phù thổi bếp, A Phủ lại mở mắt. Ngọn lửa sưởi bùng lên, cùng lúc ấy thì Mị cũng nhìn sang, thấy mắt A Phủ trừng trừng, mới biết A Phủ còn sống. Mấy đêm nay như thế. Nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay. Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thể thôi. Mị vẫn trở dậy, vẫn sưởi, chi biết chỉ còn ở với ngọn lửa.”
    • Dòng nước mắt của A Phủ đã thức tỉnh sức sống tiềm tàng đầy mãnh liệt của Mị:
      • Mị nhớ lại những ngày mà A Sử trói Mị vào góc cột: “Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt cứ chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được.”
      • Mị trở nên căm hận lũ người nhà thống lí Pá Tra: “Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác. Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đóis, chết rét, phải chết. Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi… Người kia việc gì mà phải chết thế…”
      • Mị quyết định cởi trói cho A Phủ: Lúc ấy, trong nhà đã tối bưng, Mị rón rén bước laij, A Phủ vẫn nhắm mắt nhưng Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại… Mị rút con dao nhỏ cắt lúc, cắt nút dây mây. 
      • Sau khi cởi trói cho A Phủ, Mị lại càng tỉnh táo hơn cả. Cô quyết định đi đuổi theo, cùng A Phủ chạy thoát khỏi nhà thống lí Pá Tra.

⇒ Từ khi gặp A Phủ, sức sống mãnh liệt trong Mị dần trỗi dậy. Sự căm ghét nhà thống lí Pá Tra của Mị được đẩy lên cao trào. Mị quyết định cởi trói cho A Phủ và cởi trói cho chính mình khỏi ách cường quyền và sự bóc lột lao động nặng nề của nhà thống lí. Quyết định này đã giải thoát Mị khỏi món nợ của cha mẹ, giải thoát Mị khỏi những đớn đau mà cô phải trải qua. Bây giờ, Mị đã có thể tìm về với cuộc sống tự do, cái cuộc sống mà Mị có thể tự do quyết định tương lai và hạnh phúc của chính mình.

⇒ Thông qua nhân vật Mị, Tố Hữu đã tố cáo xã hội thời đấy đã áp bức, bóc lột và chà đạp nên quyền sống cơ bản của con người, đặc biệt là nhân quyền của người phụ nữ. Đồng thời, nhà văn cũng ca ngợi khát vọng sống mãnh liệt, khát vọng tự do hạnh phúc của những con người nghèo khổ ấy.

Nhân vật A Phủ

Tuy không xuất hiện ngay từ đầu như A Sử và Mị nhưng nhân vật A Phủ vẫn để lại trong lòng người đọc một ấn tượng sâu sắc. 

  • Hoàn cảnh của A Phủ: Gia đình đều mất vì bệnh đậu mùa. Chỉ còn một mình A Phủ còn sống sót.
    • “Năm ấy làng Háng-bla phải một trận bệnh đậu mùa, nhiều trẻ con, cả người lớn, chết, có nơi chết cả nhà. Anh của A Phủ, em A Phủ chết, bố mẹ A Phủ cũng chết. Còn sót lại một mình A Phủ.”
    • “Làng chết và đói nhiều quá, có người làng đói bụng bắt A Phủ đem xuống bán đổi lấy thóc của người Thái dưới cánh đồng.”
  • A Phủ luôn cố gắng chứng tỏ mình là một người gan góc, dũng cảm và không sợ cường quyền. Khi bọn A Sử đến gây chuyện, A Phủ không ngần ngại, dũng cảm đối mặt:
    • “Một người to lớn chạy vụt ra vung tay ném con quay rất to vào mặt A Sử.”
    • “Nó vừa kịp vung tay lên, A Phủ đã xộc tới, nắm cái vòng cổ, kéo dập đầu xuống, xé vai áo, đánh tới tấp.” 
  • A Phủ phải trải qua những tháng ngày khổ cực tại nhà thống lí Pá Tra:
    • Sau khi đánh A Sử và bị giải về nhà thống lí:
      • “A Phủ ra quỳ giữa nhà. Lập tức, bọn trai làng xô đến, trước nhất, chắp tay lạy lia lịa tên thống lí Pá Tra rồi quay lại đánh A Phủ. A Phủ chịu đòn, chỉ im như cái tượng đá. Cứ một đợt bọn chức việc hút thuốc phiện xong, A Phủ lại phải quỳ ra giữa nhà, lại bị người xô đến đánh.”
    • Khi đi ở trả nợ cho nhà thống lí: Khi đi ở nhà thống lí Pá Tra, A Phủ đã phải làm rất nhiều công việc khác nhau. Vì đương tuổi đầy sức lực nên anh làm mọi thứ phăng phăng.
      • “Đốt rừng, cày nương, cuốc nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa, quanh năm một thân một mình bôn ba rong ruổi ngoài gò ngoài rừng.”
    • Khi làm mất bò nhà thống lí:
      • “A Phủ bị thống lí Pá Tra bắt trói đứng vào một cây cột Trong góc nhà bằng dây mây quấn từ chân đến vai, chờ khi nào bắt được hổ mới tha. Nhưng A Sử và lính dõng của thống lí không lùng được hổ, A Phủ vẫn bị trói. “
  • A Phủ là một người có sức phản kháng mãnh liệt:
    • Trong trận bệnh dịch, cả làng, thậm chí là cả nhà A Phủ đều đã chết. A Phủ bị dân làng đem bán cho người Thái ở cánh đồng thấp. Nhưng A Phủ không cam chịu điều đó. Anh trốn lên núi, lưu lạc ở Hồng Ngài: “A Phủ mới mười tuổi, nhưng A Phủ ngang bướng, không chịu ở dưới cánh đồng thấp. A Phủ trốn lên núi, lưu lạc đến Hồng Ngài.”
    • Trong đêm tình mùa xuân, trước việc A Sử gây chuyện, A Phủ đã mạnh mẽ đối mặt với hắn:
      • “Một người to lớn chạy vụt ra vung tay ném con quay rất to vào mặt A Sử. “
      • “Nó vừa kịp bưng tay lên, A Phủ đã xộc tới, nắm cái vòng cổ, kéo dập đầu xuống, xé vai áo, đánh tới tấp.”
    • Khi A Phủ được Mị cởi trói, mặc dù không còn sức lực sau bao ngày chịu đói, chịu khát và chịu rét nhưng anh vẫn gắng gượng đứng dậy, cùng Mị chạy thoát khỏi nhà của thống lí Pá Tra:
      • “A Phủ bỗng khụy xuống, không bước nổi. Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy.”

⇒ A Phủ hiện lên với tất cả những đức tính tốt đẹp của con người Tây Bắc: là một người gan góc, dũng cảm, không sợ cường quyền và biết chống lại những điều xấu xa, bất công. Thông qua nhân vật A Phủ, Tô Hoài đã thể hiện được giá trị nhân đạo của tác phẩm một cách đậm nét.

Nhân vật A Sử

  • Lai lịch:  A Sử là con trai nhà thống lí Pá Tra. 
  • Nhân vật A Sử hiện lên với tính cách ngang bướng, hống hách:
    • Anh ta bắt Mị về làm vợ mình mà không cần biết Mị có đồng ý hay không.
  • Gây chuyện trong đêm tình mùa xuân:
    • Lúc A Sử và chúng bạn đến chơi thì không còn một ai trong nhà vì bố mẹ và người ấy cũng đều đi ngủ. “A Sử ở ngoài tức lắm. Nó bàn với một lũ khác, dọa đánh bọn con trai lạ vẫn bám quanh nhà khiến cho bọn A Sử bị vướng không thể vào được. Bọn A Sử ném đá vào vách. “
    • Sáng hôm sau, chúng quay lại và quyết không để bọn trai kia yên, “bè lũ bạn A Sử đã kéo đến gây sự.”
  • Ỷ lại vào quyền thế của gia đình để trừng phạt những người làm mình bị thương.
  • A Sử còn là kẻ bạo tàn, đầy hung ác:
    • Hắn đánh đập, trói Mị không thương tiếc: “A Sử bước lại, nắm Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị. Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào góc nhà. Tóc Mị xõa xuống, A Sử quấn luôn tóc lên cột, làm cho Mị không cúi, không nghiêng được đầu nữa.”
    • Lúc xoa thuốc, khi Mị gục đầu ngủ thiếp đi thì A Sử liền “đạp chân vào mặt Mị.”

⇒ Nhân vật A Sử như là hiện thân của lũ cường quyền, ác bá, của lũ thực dân, chúa đất. Chúng ra sức đàn áp, bóc lột nhân dân lao động ở vùng cao Tây Bắc. Chúng chà đạp, mang đến rất nhiều sự đau khổ cho nhân dân, đặc biệt là những người nghèo khổ.

Tổng kết

Nghệ thuật

  • Khắc họa chân thực những nét riêng biệt về phong tục, tập quán, tính cách và tâm hồn người dân tộc thiểu số trên vùng cao Tây Bắc.
  • Ngôn ngữ giàu tính tạo hình, giàu chất thơ.

Nội dung

Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ xoay quanh về những người lao động phải chịu những bất công, áp bức của bè lũ thực dân, chúa đất gây ra. Nhưng họ đã biết đứng lên để phản kháng, giành lại nhân quyền cho bản thân mình.

 

 

 

 

 

Người đóng góp
Bạn có thích bài viết của Trần Nguyễn Nam Phương không? Theo dõi trên mạng xã hội
Không có bình luận
Viết một bình luận Cancel
Comments to: Vợ chồng A Phủ

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Attach images - Only PNG, JPG, JPEG and GIF are supported.