Tìm hiểu chung

Tác giả

Nhà văn Kim Lân (1920 – 2007)
  • Kim Lân (1920 – 2007), tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. 
  • Do gia đình ông có hoàn cảnh khó khăn nên ông chỉ được học hết tiểu học. Sau đó, ông vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong, vừa viết văn.
  • Năm 1944: Kim Lân tham gia vào Hội Văn hóa cứu quốc. Ông liên tục tham gia các hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng.
  • Ông là một cây bút chuyên viết về truyện ngắn. Ông thường viết về nông thôn và người nông dân. Ông viết về họ – những con người chân quê nhưng lại gắn bó tha thiết với quê hương, với cách mạng – đầy chân thật và xúc động.
  • Năm 2001: Kim Lân được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Tác phẩm

Truyện ngắn Vợ nhặt
  • Được in trong tập Con chó xuất xí (1962).
  • Truyện ngắn này có tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư. Tiểu thuyết này được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng vẫn đang dang dở và còn thất lạc bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại, ông dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết nên tiểu thuyết này.

Tóm tắt

Cái đói tràn xuống chợ làm cho tất cả đều trở nên tối sầm lại. Một buổi chiều, Tràng, một người nông dân nghèo, rách rưới, sống cùng mẹ già, đi về cùng một người đàn bà khiến mọi người xung quanh bàn tán xôn xao cả lên. Cả hai về đến nhà nhưng bà cụ Tứ, mẹ Tràng, lại đi vắng chưa về. Sau hai lần gặp, câu đùa và bốn chén bánh đúc, thị đã đi theo Tràng. Bà cụ về, Tràng reo lên. Tràng giải thích cho bà về sự xuất hiện của Thị. Bấy giờ, trong lòng bà có rất nhiều cảm xúc khác nhau đan xen lẫn lộn. Sau khi nói chuyện với con dâu, bà khóc. Đêm tân hôn của họ diễn ra lặng lẽ trong không khí thê lương với mùi rơm rạ và tiếng khóc vẳng tới từ những gia đình trong xóm của người đã khuất. 

Sáng hôm sau, Tràng dậy muộn. Tràng thấy từ trong nhà cho đến ngoài sân đều đã thay đổi một cách gọn gàng, sạch sẽ hơn. Bữa ăn chỉ có rau chuối chấm muối và một nồi cháo lõng bõng. Bà cụ Tứ đem ra một nồi “chè khoán”  để mừng con dâu mới. Tiếng trống thu thuế nổi lên. Bà cụ Tứ lại khóc. Trong đầu Tràng lúc bấy giờ chỉ có hình ảnh đám người đó và lá cờ đỏ bay phấp phới.

Đọc – hiểu văn bản

Nhân vật Tràng

Ngoại hình

  • hai con mắt nhỏ tí
  • hai bên quai hàm bạnh ra
  • bộ mặt thô kệch
  • thân hình to lớn, vập vạp 

Lai lịch

  • Tràng là dân ngụ cư, nghèo khổ, làm nghề đẩy xe bò thuê:
    • Dân ngụ cư là những người từ nơi khác đến. Chính vì thế, họ không có ruộng đất, tài sản quan trọng nhất đối với người nông dân thời xưa.
    • Họ bị phân biệt đối xử, thường phải ở nơi hẻo lánh hoặc ở bìa làng.
  • Vì là dân ngụ cư nên Tràng bị người làng khinh thường, trừ đám trẻ hay chọc anh mỗi khi đi làm về.

⇒ Tràng là hình ảnh tiêu biểu cho số phận của những người nông dân trước năm 1945. Họ có hoàn cảnh, số phận đầy bi đát, đáng thương. Dưới ngòi bút của Kim Lân, nhân vật Tràng bị đẩy đến tận cùng của bất hạnh: ngoại hình xấu xí, hoàn cảnh bấp bênh,…

Tâm trạng và hành động

  • Khi gặp gỡ và quyết định nhặt vợ:
    • Lần thứ nhất:
      • Một lần, khi Tràng đang kéo xe bò thóc vào tỉnh, hắn hò chơi một câu:

Muốn ăn cơm trắng mấy giò này!

Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!

      • Trong tâm hắn chẳng có ý chòng ghẹo cô gái nào gần đấy nhưng các cô gái lại đẩy thị ra với hắn. Thị cùng hắn đẩy xe thóc.
      • Tràng thích lắm. Từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế.
    • Lần thứ hai:
      • Khi Tràng vừa trả hàng xong, đang ngồi uống nước thì gặp thị chạy sầm sập đến. Tràng bị thị mắng. Anh liền mời cô ăn dù bản thân cũng không dư dả gì mấy. 
      • Anh đùa với Thị: Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về. Anh nào có ngờ rằng thị theo anh về thật.
      • Anh chợt nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng.
      • Anh tặc lưỡi: Chậc, kệ!
      • Anh đưa thị vào chợ mua cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt  và ra hàng cơm đánh một bữa thật no nê rồi cùng đẩy xe bò về.

⇒ Tuy được miêu tả đến nỗi tận cùng của bất hạnh nhưng Tràng vẫn có thể lấy được vợ. Tràng lấy vợ là một câu chuyện đầy ngạc nhiên nhưng cũng không kém phần bi hại. Nó diễn ra quá đỗi nhanh chóng và dễ dàng. 

⇒ Trong hoàn cảnh hiện tại, Tràng cũng không biết trước được liệu anh có nuôi nổi bản thân mình hay không. Ban đầu, anh cũng lo sợ về điều đó. Nhưng vì tình yêu thương của mình, Tràng không nỡ chối bỏ thị và “nhặt” thị về làm vợ mình. Qua đó, ta có thể thấy được, đằng sau cái vẻ ngờ nghệch, Tràng là một người giàu lòng yêu thương, nhân hậu và vị tha.

  • Trên đường về nhà:
    • Ngày thường, khi anh đi làm về, lũ trẻ sẽ chạy ra đón và đùa với anh. Nhưng hôm nay, khi dắt thị về cùng, anh sợ chúng nó đùa như ngày trước, Tràng vội vàng nghiêm nét mặt , lắc đầu ra hiệu không bằng lòng. đánh dấu sự trưởng thành từng bước của Tràng.
    • Mặt hắn có một vẻ gì phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh. → Hạnh phúc đã về với Tràng. 
    • Hắn cũng biết thế, nhưng hắn lại lấy vậy làm thích ý lắm, cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình. 
  • Khi về đến nhà:
    • Xăm xăm bước vào nhà và dọn sơ qua: nhấc tấm phên rách sang một bên, thu dọn những niêu bát, xống áo bừa bộn cả trên giường, dưới đất.
    • Hắn vội thanh minh về sự bừa bộn của mình: Không có người đàn bà, nhà cửa thế đấy!
    • Anh cảm thấy sốt ruột khi đợi mẹ về để thưa chuyện của mình và thị: 
      • Tràng đứng tây ngây ra giữa nhà một lúc, chợt hắn thấy sờ sợ. Chính hắn cũng không hiểu sao hắn sợ.
      • Hắn loanh quanh hết chạy ra ngõ đứng ngóng, lại chạy vào sân nhìn trộm vào trong nhà
  • Khi cụ Tứ về đến nhà: 
    • Mời u vào nhà.
    • Mời u lên giường lên giếc chĩnh chện rồi mới thưa chuyện: Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ! Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau… Chẳng qua nó cũng là cái số cả…
    • Khi cụ Tứ đồng ý: Tràng thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi. Hắn ho khẽ một tiếng, bước từng bước dài ra sân.
  • Sáng hôm sau:
    • Đến khi mặt trời lên bằng con sào thì Tràng mới dậy. 
    • Hắn vẫn chưa tin được rằng mình đã có vợ: Trong người êm ái lửng lơ như người vừa mới ở trong giấc mơ ra. Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải.
    • Xung quanh hắn có rất nhiều thay đổi: 
      • Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng.
      • Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong.
      • Hai cái ang nước để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp.
      • Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch.
    • Hắn thấy mẹ đang lúi húi giẫy những bụi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân
    • Hắn đã có gia đình. Hắn cảm thấy mình trưởng thành hơn: Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này

Tuy đây là những cảnh vật rất đỗi lạ thường nhưng với Tràng, nó rất thấm thía và cảm động. 

Tràng đã trưởng thành hơn. Tràng nhận thức được trách nhiệm vun vén gia đình của mình. Tràng không còn chỉ biết nghĩ cho mình nữa. Giờ đây, anh đã biết lo cho người khác. Anh không muốn sông một cuộc sốc tạm bợ nữa, anh bắt đầu biết nghĩ và xây dựng cho tương lai của gia đình mình.

    • Khi nghe tiếng trống thúc thuế, hắn thần mặt ra nghĩ ngợi về những người phá kho thóc Nhật. Trong đầu hắn lúc bấy giờ chỉ có hình ảnh đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới.

→ Nhờ thị, Tràng đã thay đổi về nhận thức của chính mình. Anh đã giác ngộ được lý tưởng cách mạng: đi theo Đảng, đi theo cách mạng là một điều tất yếu để đem lại hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình và cho toàn xã hội.

⇒ Tràng là một người đàn ông nghèo khổ, rách rưới và anh sống cùng mẹ già. Vô tình, hắn “nhặt” được thị và nên duyên vợ chồng với cô. Từ lúc có tình yêu, Tràng thay đổi hẳn. Anh thay đổi theo hướng tích cực, trở thành một con người hiền lành và đáng mến. Một cuộc sống mới đang dần đến với anh. Anh bắt đầu trưởng thành hơn, biết có trách nhiệm với người vợ của mình hơn. Từ một người nông dân bần cùng, nghèo khổ, anh đã trở thành một con người trưởng thành, giàu tình cảm và biết quan tâm đến mọi người xung quanh. Thông qua nhân vật Tràng, nhà văn Kim Lân muốn gửi gắm thông điệp: Người nông dân trong xã hội phong kiến đều có chung một số phận, nhưng họ khác nhau ở một điểm: cách suy nghĩ và cách chọn làm người. 

Nhân vật bà cụ Tứ

Giới thiệu sơ nét

  • Bà là mẹ của Tràng, là dân ngụ cư.
  • Ngoại hình: lọng khọng đi vào, vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng.

→ Qua miêu tả của tác giả, người đọc có thể cảm nhận được đây là một người phụ nữ đã có tuổi, không còn minh mẫn, tinh anh như ngày trước nữa.

Diễn biến tâm trạng của bà cụ

  • Bà lão phấp phỏng khi thấy sự đon đả của Tràng. 
  • Khi thấy một người đàn bà lạ trong nhà:
    • Đên giữa sân bà lão sững lại, bà lão càng ngạc nhiên hơn.
    • Bà tự hỏi: Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong nhà ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thấy nhỉ? Sao lại chào mình bằng u?
    • Bà không nhận ra đó là người nào nên đã hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn vì tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn ra thì phải.
  • Sau khi nghe Tràng thưa chuyện, bà thấy thương cho Tràng: Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái nở mặt sau này. Còn mình thì… Rồi bà khóc… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt…
  • Bà cũng thấy tủi cho chính mình vì không thể lo được cho con: Thôi thì bổn phận là bà là mẹ, bà đã chẳng lo được cho con…
  • Bà thương cho đứa con gái lấy con trai bà, thương cho cả sự ngờ nghệch của Tràng: Người ta có gặp trước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được…
  • Bà căn dặn các con:
    • Nhà ta nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau.
    • Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi. Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…
  • Đến đây, bà nghẹn lời không nói được nữa.

→ Khi thấy người lạ ở trong nhà, bà cũng không lớn tiếng quát nạt, không xua đuổi mà chỉ lặng thinh. Sau khi nghe Tràng thưa chuyện, bà cũng không trách mắng con. Trái lại, bà cảm thấy lo lắng cho cả Tràng và thị. Trong cái hoàn cảnh nghèo đói ấy, tình người vẫn cứ chan chứa, vẫn đong đầy. Rồi bà lại thấy tủi thân vì không lo được cho con một cái lễ tươm tất như bao người khác. Sau cùng, bà căn dặn Tràng và thị hãy tu chí làm ăn và sống hòa thuận bên nhau.

  • Bà đối xử tốt với thị, cô con dâu mới, bằng sự ân cần, tôn trọng và đầy tử tế: Con ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân.
  • Bà mẹ Tràng cũng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên.
  • Bà bảo Tràng khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà để nuôi ở bếp. → Bà đang cố gắng xây dựng, vun đắp cho gia đình nhỏ của con trai mình.

⇒ Bà cụ Tứ là một người phụ nữ, là một người mẹ đầy chất phát, vị tha. Bà luôn dành rất nhiều tình cảm cho những đứa con của mình. Bà âm thầm lo lắng, chăm chút và hi sinh cho hạnh phúc của con mình. 

⇒ Nhân vật bà cụ Tứ là một điển hình cho đức tính cao đẹp của người mẹ Việt Nam.

Nhân vật thị

  • Thị là một người không có gia đình, không có quê hương.
  • Ngoại hình: quần áo tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt.
  • Trong hai lần gặp Tràng:
    • Lần thứ nhất: nhiệt tình vào giúp đỡ Tràng đẩy xe thóc khi nghe được câu hò của anh.
    • Lần thứ hai:
      • Thị từ chối ăn trầu để được ăn một cái gì đó khác: Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu.
      • Khi Tràng bảo muốn ăn gì thì ăn: Thế là thị ngồi sà xuống, ăn thật. Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì.
      • Khi nghe Tràng nói đùa: Này nói đùa chứ có về với tớ thì khuân hàng lên xe rồi cùng về, thị đi theo về thật.

⇒ Thị, một người đàn bà, bị cái đói hành hạ đến độ cong cớn, sưng sỉa vì miếng ăn, rồi cuối cùng vì 4 bát bánh đúc mà đánh đổi cả một đời làm vợ người. Thị đã ở bên bờ vực của cái chết, nên thị phải chấp nhận mang trên mình cái danh người “vợ nhặt”, tựa như cọng rơm, cọng rác vứt đâu đó ngoài xó chợ.

  • Thị là một người có khát vọng sống mãnh liệt:
    • Chấp nhận theo Tràng và về làm vợ Tràng dù cô không biết Tràng là ai, gia đình anh như thế nào,… → Thị cần có nơi nương tựa để sống qua những ngày tiếp theo.
  • Thị là một người ý tứ, nết na:
    • Trên đường về nhà, thị rón rén, e thẹn đi sau Tràng: Thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiên che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ rón rén, e thẹn.
    • Khi vừa về đến nhà, thị được Tràng đon đả mời ngồi: Thị vẫn ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần.
    • Khi thị gặp mẹ chồng, thị vẫn giữ sự ý tứ, nết na của mình. Thậm chí, cô còn cảm thấy ngại ngùng: Thị cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt.

→ Cái đói không làm mất đi bản chất tốt đẹp của thị. Thị là một người con gái đoan trang, nết na. Thị vẫn cần được yêu thương, được hạnh phúc. Thị muốn được sống trong một gia đình, một mái ấm chan chứa tình yêu thương như biết bao người khác. 

    • Vừa về làm dâu nhà Tràng, thị đã thể hiện mình là một người con gái nết na, hiền hậu đúng mực không còn vẻ chao chát, chỏng lỏn như khi vừa gặp anh.
    • Lúc ăn món “chè khoán”: Người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại. Dẫu thế, thị điềm nhiên và vào miệng. → sự ý tứ, không muốn làm mẹ chồng buồn dù cho bát cám có khó ăn.

→ Sự quan tâm, yêu thương của Tràng và bà cụ Tứ đã hồi sinh thị. Niềm vui đang dâng tràn trong lòng thị, khiến cô thay đổi, trở nên tốt đẹp hơn.

  • Thị là người có niềm tin vào tương lai:
    • Thị kể cho Tràng và cụ Tứ nghe về chuyện kho thóc trên Thái Nguyên, Bắc Giang: Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật, chia cho người đói nữa đấy.
    • Thị là người thắp lên niềm tin, hy vọng vào tương lai tươi sáng, đặc biệt là Tràng.

Thị là một con người ý tứ, nết na. Cho dù cuộc đời có đối xử với thị như thế nào đi chăng nữa cũng không thể nào làm mất đi đức tính tốt đẹp, lòng tốt và niềm tin vào tương lai tươi sáng của Mị. 

Giá trị hiện thực

  • Tác phẩm đã khắc họa nên bức tranh về những người dân ngụ cư đang trên vực thẳm của nạn đói:

Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đôi chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người.

 Nạn đói đã biến một ngôi làng thành nơi mà cái chết hiện diện, bao trùm khắp không gian và thời gian, khiến con người ta không thể trốn chạy, vật vờ, ngột ngạt và tuyệt vọng. 

  • Số phận người dân ngụ cư:
    • những khuôn mặt hốc hác u tối
    • không nhà nào có ánh đèn, lửa
    • Trẻ con ngồi ủ rũ dưới những xó đất, không buồn nhúc nhích.
    • Hình ảnh thị áo quần rách như tổ đỉa, gầy sọp hẳn đi, hai con mắt trùng hoáy, cái ngực gầy lép nhô hẳn lên.
    • Tràng phải đi đẩy xe bò thuê để kiếm ăn qua ngày và nuôi mẹ già.
    • Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại, giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, một đĩa muối ăn với cháo và nồi “chè khoắn” đắng chát và nghẹn bứ trong cổ

⇒ Cái đói như bao trùm lên tất cả và khiến mọi thứ dần trở nên tồi tệ hơn. Nếu chẳng phải trong nạn đói, con người cũng không thể nào nuốt nổi bữa cơm “đạm bạc” đó. Thậm chí, họ còn phải ăn cả thức ăn dành cho gia súc để duy trì sự sống của chính bản thân mình. Đó chính là mùi vị của những năm tháng khốn khổ, ngặt nghèo đầy kinh hoàng ấy.

Giá trị nhân đạo

  • Thông qua tác phẩm, nhà văn Kim Lân như bày tỏ niềm thương xót đối với cảnh bi thảm của nhân dân, của quần chúng lao động trong nạn đói năm 1945.
  • Trong cái hoàn cảnh đen tối ấy, có lẽ con người sẽ trở nên tuyệt vọng, cuộc sống sẽ trở nên u ám hơn. May thay, vẫn còn một thứ có thể thắp sáng tâm hồn, tinh thần con người. Đó chính là tình yêu thương. Trong cái đau đớn, đói khổ ấy vẫn hiện lên tình yêu thương, lòng nhân hậu và sự che chở, nương tựa lẫn nhau của những người lao động nghèo. → niềm tin của tác giả vào tương lai tươi sáng được thể hiện qua khát vọng sống bền bỉ, khát khao tình thương của người lao động. 
  • Chủ nghĩa nhân đạo của tác phẩm dựa trên sự am hiểu sâu sắc, gắn với đời sống người nông dân của Kim Lân. Tác giả không tô vẽ, lí tưởng các nhân vật của mình.

Tổng kết

Nghệ thuật

  • Tình huống truyện độc đáo.
  • Các kể chuyện hấp dẫn.
  • Miêu tả nội tâm nhân vật sinh động

Nội dung

  • Miêu tả tình cảnh thê thảm của nhân dân ta trong nạn đói năm 1945.
  • Thể hiện bản chất tốt đẹp của con người: ngay trên bờ vực cái chết, họ vẫn hướng về khát khao được sống, tình cảm hạnh phúc gia đình
Bạn có thích bài viết của Trần Nguyễn Nam Phương không? Theo dõi trên mạng xã hội
Không có bình luận
Viết một bình luận Cancel
Comments to: Vợ nhặt

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Attach images - Only PNG, JPG, JPEG and GIF are supported.