Tìm hiểu chung

Tác giả Kim Lân

Nhà văn Kim Lân (1920 – 2007)

Tiểu sử

  • Kim Lân sinh ngày 1 tháng 8 năm 1920, tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. 

Cuộc đời

  • Do gia đình ông có hoàn cảnh khó khăn nên ông chỉ được học hết tiểu học. Sau đó, ông vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong, vừa viết văn.
  • Sau Cách mạng tháng Tám, Kim Lân vẫn tiếp tục viết văn, làm báo.
  • Ông từ trần vào ngày 20 tháng 7 năm 2007 tại bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội vì bệnh hen suyễn, hưởng dương 87 tuổi.

Sự nghiệp văn học

  • Năm 1941: Kim Lân bắt đầu viết những truyện ngắn đầu tiên. Các tác phẩm của Kim Lân được đăng trên các báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắc chủ nhật. Một số truyện của tuy đậm chất tự truyện nhưng vẫn thể hiện được sự tiêu điều, ảm đạm của nông thôn Việt Nam. Đồng thời, cuộc sống lam lũ, đầy vất vả của người nông dân cũng được khắc họa rõ nét.
  • Năm 1944: Kim Lân tham gia vào Hội Văn hóa cứu quốc. Ông liên tục tham gia các hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng.
  • Ông là một cây bút chuyên viết về truyện ngắn. Ông thường viết về nông thôn và người nông dân. Ông viết về họ – những con người chân quê nhưng lại gắn bó tha thiết với quê hương, với cách mạng – đầy chân thật và xúc động.
  • Năm 2001: Kim Lân được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Tác phẩm

Truyện ngắn Vợ nhặt
  • Được in trong tập Con chó xuất xí (1962).
  • Truyện ngắn này có tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư. Tiểu thuyết này được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng vẫn đang dang dở và còn thất lạc bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại, ông dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết nên tiểu thuyết này.

Tóm tắt

Cái đói tràn xuống chợ làm cho tất cả đều trở nên tối sầm lại. Một buổi chiều, Tràng, một người nông dân nghèo, rách rưới, sống cùng mẹ già, đi về cùng một người đàn bà khiến mọi người xung quanh bàn tán xôn xao cả lên. Cả hai về đến nhà nhưng bà cụ Tứ, mẹ Tràng, lại đi vắng chưa về. Sau hai lần gặp, câu đùa và bốn chén bánh đúc, thị đã đi theo Tràng. Bà cụ về, Tràng reo lên. Tràng giải thích cho bà về sự xuất hiện của Thị. Bấy giờ, trong lòng bà có rất nhiều cảm xúc khác nhau đan xen lẫn lộn. Sau khi nói chuyện với con dâu, bà khóc. Đêm tân hôn của họ diễn ra lặng lẽ trong không khí thê lương với mùi rơm rạ và tiếng khóc vẳng tới từ những gia đình trong xóm của người đã khuất. 

Sáng hôm sau, Tràng dậy muộn. Tràng thấy từ trong nhà cho đến ngoài sân đều đã thay đổi một cách gọn gàng, sạch sẽ hơn. Bữa ăn chỉ có rau chuối chấm muối và một nồi cháo lõng bõng. Bà cụ Tứ đem ra một nồi “chè khoán”  để mừng con dâu mới. Tiếng trống thu thuế nổi lên. Bà cụ Tứ lại khóc. Trong đầu Tràng lúc bấy giờ chỉ có hình ảnh đám người đó và lá cờ đỏ bay phấp phới.

Đọc – hiểu văn bản

Nhân vật Tràng

Ngoại hình

  • hai con mắt nhỏ tí
  • hai bên quai hàm bạnh ra
  • bộ mặt thô kệch
  • thân hình to lớn, vập vạp 

Lai lịch

  • Tràng là dân ngụ cư, nghèo khổ, làm nghề đẩy xe bò thuê:
    • Dân ngụ cư là những người từ nơi khác đến. Chính vì thế, họ không có ruộng đất, tài sản quan trọng nhất đối với người nông dân thời xưa.
    • Họ bị phân biệt đối xử, thường phải ở nơi hẻo lánh hoặc ở bìa làng.
  • Vì là dân ngụ cư nên Tràng bị người làng khinh thường, trừ đám trẻ hay chọc anh mỗi khi đi làm về.

⇒ Tràng là hình ảnh tiêu biểu cho số phận của những người nông dân trước năm 1945. Họ có hoàn cảnh, số phận đầy bi đát, đáng thương. Dưới ngòi bút của Kim Lân, nhân vật Tràng bị đẩy đến tận cùng của bất hạnh: ngoại hình xấu xí, hoàn cảnh bấp bênh,…

Tâm trạng và hành động

  • Khi gặp gỡ và quyết định nhặt vợ:
    • Lần thứ nhất:
      • Một lần, khi Tràng đang kéo xe bò thóc vào tỉnh, hắn hò chơi một câu:

Muốn ăn cơm trắng mấy giò này!

Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!

      • Trong tâm hắn chẳng có ý chòng ghẹo cô gái nào gần đấy nhưng các cô gái lại đẩy thị ra với hắn. Thị cùng hắn đẩy xe thóc.
      • Tràng thích lắm. Từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế.
    • Lần thứ hai:
      • Khi Tràng vừa trả hàng xong, đang ngồi uống nước thì gặp thị chạy sầm sập đến. Tràng bị thị mắng. Anh liền mời cô ăn dù bản thân cũng không dư dả gì mấy. 
      • Anh đùa với Thị: Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về. Anh nào có ngờ rằng thị theo anh về thật.
      • Anh chợt nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng.
      • Anh tặc lưỡi: Chậc, kệ!
      • Anh đưa thị vào chợ mua cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt  và ra hàng cơm đánh một bữa thật no nê rồi cùng đẩy xe bò về.

⇒ Tuy được miêu tả đến nỗi tận cùng của bất hạnh nhưng Tràng vẫn có thể lấy được vợ. Tràng lấy vợ là một câu chuyện đầy ngạc nhiên nhưng cũng không kém phần bi hại. Nó diễn ra quá đỗi nhanh chóng và dễ dàng. 

⇒ Trong hoàn cảnh hiện tại, Tràng cũng không biết trước được liệu anh có nuôi nổi bản thân mình hay không. Ban đầu, anh cũng lo sợ về điều đó. Nhưng vì tình yêu thương của mình, Tràng không nỡ chối bỏ thị và “nhặt” thị về làm vợ mình. Qua đó, ta có thể thấy được, đằng sau cái vẻ ngờ nghệch, Tràng là một người giàu lòng yêu thương, nhân hậu và vị tha.

  • Trên đường về nhà:
    • Ngày thường, khi anh đi làm về, lũ trẻ sẽ chạy ra đón và đùa với anh. Nhưng hôm nay, khi dắt thị về cùng, anh sợ chúng nó đùa như ngày trước, Tràng vội vàng nghiêm nét mặt , lắc đầu ra hiệu không bằng lòng. đánh dấu sự trưởng thành từng bước của Tràng.
    • Mặt hắn có một vẻ gì phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh. → Hạnh phúc đã về với Tràng. 
    • Hắn cũng biết thế, nhưng hắn lại lấy vậy làm thích ý lắm, cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình. 
  • Khi về đến nhà:
    • Xăm xăm bước vào nhà và dọn sơ qua: nhấc tấm phên rách sang một bên, thu dọn những niêu bát, xống áo bừa bộn cả trên giường, dưới đất.
    • Hắn vội thanh minh về sự bừa bộn của mình: Không có người đàn bà, nhà cửa thế đấy!
    • Anh cảm thấy sốt ruột khi đợi mẹ về để thưa chuyện của mình và thị: 
      • Tràng đứng tây ngây ra giữa nhà một lúc, chợt hắn thấy sờ sợ. Chính hắn cũng không hiểu sao hắn sợ.
      • Hắn loanh quanh hết chạy ra ngõ đứng ngóng, lại chạy vào sân nhìn trộm vào trong nhà
  • Khi cụ Tứ về đến nhà: 
    • Mời u vào nhà.
    • Mời u lên giường lên giếc chĩnh chện rồi mới thưa chuyện: Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ! Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau… Chẳng qua nó cũng là cái số cả…
    • Khi cụ Tứ đồng ý: Tràng thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi. Hắn ho khẽ một tiếng, bước từng bước dài ra sân.
  • Sáng hôm sau:
    • Đến khi mặt trời lên bằng con sào thì Tràng mới dậy. 
    • Hắn vẫn chưa tin được rằng mình đã có vợ: Trong người êm ái lửng lơ như người vừa mới ở trong giấc mơ ra. Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải.
    • Xung quanh hắn có rất nhiều thay đổi: 
      • Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng.
      • Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong.
      • Hai cái ang nước để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp.
      • Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch.
    • Hắn thấy mẹ đang lúi húi giẫy những bụi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân
    • Hắn đã có gia đình. Hắn cảm thấy mình trưởng thành hơn: Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này

Tuy đây là những cảnh vật rất đỗi lạ thường nhưng với Tràng, nó rất thấm thía và cảm động. 

Tràng đã trưởng thành hơn. Tràng nhận thức được trách nhiệm vun vén gia đình của mình. Tràng không còn chỉ biết nghĩ cho mình nữa. Giờ đây, anh đã biết lo cho người khác. Anh không muốn sống một cuộc sống tạm bợ nữa, anh bắt đầu biết nghĩ và xây dựng cho tương lai của gia đình mình.

    • Khi nghe tiếng trống thúc thuế, hắn thần mặt ra nghĩ ngợi về những người phá kho thóc Nhật. Trong đầu hắn lúc bấy giờ chỉ có hình ảnh đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới.

→ Nhờ thị, Tràng đã thay đổi về nhận thức của chính mình. Anh đã giác ngộ được lý tưởng cách mạng: đi theo Đảng, đi theo cách mạng là một điều tất yếu để đem lại hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình và cho toàn xã hội.

⇒ Tràng là một người đàn ông nghèo khổ, rách rưới và anh sống cùng mẹ già. Vô tình, hắn “nhặt” được thị và nên duyên vợ chồng với cô. Từ lúc có tình yêu, Tràng thay đổi hẳn. Anh thay đổi theo hướng tích cực, trở thành một con người hiền lành và đáng mến. Một cuộc sống mới đang dần đến với anh. Anh bắt đầu trưởng thành hơn, biết có trách nhiệm với người vợ của mình hơn. Từ một người nông dân bần cùng, nghèo khổ, anh đã trở thành một con người trưởng thành, giàu tình cảm và biết quan tâm đến mọi người xung quanh. Thông qua nhân vật Tràng, nhà văn Kim Lân muốn gửi gắm thông điệp: Người nông dân trong xã hội phong kiến đều có chung một số phận, nhưng họ khác nhau ở một điểm: cách suy nghĩ và cách chọn làm người. 

Nhân vật bà cụ Tứ

Giới thiệu sơ nét

  • Bà là mẹ của Tràng, là dân ngụ cư.
  • Ngoại hình: lọng khọng đi vào, vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng.

→ Qua miêu tả của tác giả, người đọc có thể cảm nhận được đây là một người phụ nữ đã có tuổi, không còn minh mẫn, tinh anh như ngày trước nữa.

Diễn biến tâm trạng của bà cụ

  • Bà lão phấp phỏng khi thấy sự đon đả của Tràng. 
  • Khi thấy một người đàn bà lạ trong nhà:
    • Đến giữa sân bà lão sững lại, bà lão càng ngạc nhiên hơn.
    • Bà tự hỏi: Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong nhà ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thấy nhỉ? Sao lại chào mình bằng u?
    • Bà không nhận ra đó là người nào nên đã hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn vì tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn ra thì phải.
  • Sau khi nghe Tràng thưa chuyện, bà thấy thương cho Tràng: Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái nở mặt sau này. Còn mình thì… Rồi bà khóc… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt…
  • Bà cũng thấy tủi cho chính mình vì không thể lo được cho con: Thôi thì bổn phận là bà là mẹ, bà đã chẳng lo được cho con…
  • Bà thương cho đứa con gái lấy con trai bà, thương cho cả sự ngờ nghệch của Tràng: Người ta có gặp trước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được…
  • Bà căn dặn các con:
    • Nhà ta nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau.
    • Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi. Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…
  • Đến đây, bà nghẹn lời không nói được nữa.

→ Khi thấy người lạ ở trong nhà, bà cũng không lớn tiếng quát nạt, không xua đuổi mà chỉ lặng thinh. Sau khi nghe Tràng thưa chuyện, bà cũng không trách mắng con. Trái lại, bà cảm thấy lo lắng cho cả Tràng và thị. Trong cái hoàn cảnh nghèo đói ấy, tình người vẫn cứ chan chứa, vẫn đong đầy. Rồi bà lại thấy tủi thân vì không lo được cho con một cái lễ tươm tất như bao người khác. Sau cùng, bà căn dặn Tràng và thị hãy tu chí làm ăn và sống hòa thuận bên nhau.

  • Bà đối xử tốt với thị, cô con dâu mới, bằng sự ân cần, tôn trọng và đầy tử tế: Con ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân.
  • Bà mẹ Tràng cũng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên.
  • Bà bảo Tràng khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà để nuôi ở bếp. → Bà đang cố gắng xây dựng, vun đắp cho gia đình nhỏ của con trai mình.

⇒ Bà cụ Tứ là một người phụ nữ, là một người mẹ đầy chất phát, vị tha. Bà luôn dành rất nhiều tình cảm cho những đứa con của mình. Bà âm thầm lo lắng, chăm chút và hi sinh cho hạnh phúc của con mình. 

⇒ Nhân vật bà cụ Tứ là một điển hình cho đức tính cao đẹp của người mẹ Việt Nam.

Nhân vật thị

  • Thị là một người không có gia đình, không có quê hương.
  • Ngoại hình: quần áo tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt.
  • Trong hai lần gặp Tràng:
    • Lần thứ nhất: nhiệt tình vào giúp đỡ Tràng đẩy xe thóc khi nghe được câu hò của anh.
    • Lần thứ hai:
      • Thị từ chối ăn trầu để được ăn một cái gì đó khác: Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu.
      • Khi Tràng bảo muốn ăn gì thì ăn: Thế là thị ngồi sà xuống, ăn thật. Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì.
      • Khi nghe Tràng nói đùa: Này nói đùa chứ có về với tớ thì khuân hàng lên xe rồi cùng về, thị đi theo về thật.

⇒ Thị, một người đàn bà, bị cái đói hành hạ đến độ cong cớn, sưng sỉa vì miếng ăn, rồi cuối cùng vì 4 bát bánh đúc mà đánh đổi cả một đời làm vợ người. Thị đã ở bên bờ vực của cái chết, nên thị phải chấp nhận mang trên mình cái danh người “vợ nhặt”, tựa như cọng rơm, cọng rác vứt đâu đó ngoài xó chợ.

  • Thị là một người có khát vọng sống mãnh liệt:
    • Chấp nhận theo Tràng và về làm vợ Tràng dù cô không biết Tràng là ai, gia đình anh như thế nào,… → Thị cần có nơi nương tựa để sống qua những ngày tiếp theo.
  • Thị là một người ý tứ, nết na:
    • Trên đường về nhà, thị rón rén, e thẹn đi sau Tràng: Thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ rón rén, e thẹn.
    • Khi vừa về đến nhà, thị được Tràng đon đả mời ngồi: Thị vẫn ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần.
    • Khi thị gặp mẹ chồng, thị vẫn giữ sự ý tứ, nết na của mình. Thậm chí, cô còn cảm thấy ngại ngùng: Thị cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt.

→ Cái đói không làm mất đi bản chất tốt đẹp của thị. Thị là một người con gái đoan trang, nết na. Thị vẫn cần được yêu thương, được hạnh phúc. Thị muốn được sống trong một gia đình, một mái ấm chan chứa tình yêu thương như biết bao người khác. 

    • Vừa về làm dâu nhà Tràng, thị đã thể hiện mình là một người con gái nết na, hiền hậu đúng mực không còn vẻ chao chát, chỏng lỏn như khi vừa gặp anh.
    • Lúc ăn món “chè khoán”: Người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại. Dẫu thế, thị điềm nhiên và vào miệng. → sự ý tứ, không muốn làm mẹ chồng buồn dù cho bát cám có khó ăn.

→ Sự quan tâm, yêu thương của Tràng và bà cụ Tứ đã hồi sinh thị. Niềm vui đang dâng tràn trong lòng thị, khiến cô thay đổi, trở nên tốt đẹp hơn.

  • Thị là người có niềm tin vào tương lai:
    • Thị kể cho Tràng và cụ Tứ nghe về chuyện kho thóc trên Thái Nguyên, Bắc Giang: Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật, chia cho người đói nữa đấy.
    • Thị là người thắp lên niềm tin, hy vọng vào tương lai tươi sáng, đặc biệt là Tràng.

Thị là một con người ý tứ, nết na. Cho dù cuộc đời có đối xử với thị như thế nào đi chăng nữa cũng không thể nào làm mất đi đức tính tốt đẹp, lòng tốt và niềm tin vào tương lai tươi sáng của Mị. 

Giá trị hiện thực

  • Tác phẩm đã khắc họa nên bức tranh về những người dân ngụ cư đang trên vực thẳm của nạn đói:

Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đôi chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người.

 Nạn đói đã biến một ngôi làng thành nơi mà cái chết hiện diện, bao trùm khắp không gian và thời gian, khiến con người ta không thể trốn chạy, vật vờ, ngột ngạt và tuyệt vọng. 

  • Số phận người dân ngụ cư:
    • những khuôn mặt hốc hác u tối
    • không nhà nào có ánh đèn, lửa
    • Trẻ con ngồi ủ rũ dưới những xó đất, không buồn nhúc nhích.
    • Hình ảnh thị áo quần rách như tổ đỉa, gầy sọp hẳn đi, hai con mắt trùng hoáy, cái ngực gầy lép nhô hẳn lên.
    • Tràng phải đi đẩy xe bò thuê để kiếm ăn qua ngày và nuôi mẹ già.
    • Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại, giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, một đĩa muối ăn với cháo và nồi “chè khoắn” đắng chát và nghẹn bứ trong cổ

⇒ Cái đói như bao trùm lên tất cả và khiến mọi thứ dần trở nên tồi tệ hơn. Nếu chẳng phải trong nạn đói, con người cũng không thể nào nuốt nổi bữa cơm “đạm bạc” đó. Thậm chí, họ còn phải ăn cả thức ăn dành cho gia súc để duy trì sự sống của chính bản thân mình. Đó chính là mùi vị của những năm tháng khốn khổ, ngặt nghèo đầy kinh hoàng ấy.

Giá trị nhân đạo

  • Thông qua tác phẩm, nhà văn Kim Lân như bày tỏ niềm thương xót đối với cảnh bi thảm của nhân dân, của quần chúng lao động trong nạn đói năm 1945.
  • Trong cái hoàn cảnh đen tối ấy, có lẽ con người sẽ trở nên tuyệt vọng, cuộc sống sẽ trở nên u ám hơn. May thay, vẫn còn một thứ có thể thắp sáng tâm hồn, tinh thần con người. Đó chính là tình yêu thương. Trong cái đau đớn, đói khổ ấy vẫn hiện lên tình yêu thương, lòng nhân hậu và sự che chở, nương tựa lẫn nhau của những người lao động nghèo. → niềm tin của tác giả vào tương lai tươi sáng được thể hiện qua khát vọng sống bền bỉ, khát khao tình thương của người lao động. 
  • Chủ nghĩa nhân đạo của tác phẩm dựa trên sự am hiểu sâu sắc, gắn với đời sống người nông dân của Kim Lân. Tác giả không tô vẽ, lí tưởng các nhân vật của mình.

Tổng kết

Nghệ thuật

  • Tình huống truyện độc đáo.
  • Các kể chuyện hấp dẫn.
  • Miêu tả nội tâm nhân vật sinh động

Nội dung

  • Miêu tả tình cảnh thê thảm của nhân dân ta trong nạn đói năm 1945.
  • Thể hiện bản chất tốt đẹp của con người: ngay trên bờ vực cái chết, họ vẫn hướng về khát khao được sống, tình cảm hạnh phúc gia đình.

Tâm sự của nhà văn Kim Lân về tác phẩm

PV: Thưa nhà văn, dịch đói năm 1944-1945 đã cướp đi rất nhiều sinh mạng của đồng bào ta. Ở các vùng nông thôn Bắc Bộ, hầu như gia đình nào cũng có người chết đói, anh em, vợ chồng, cha mẹ, con cái ly tán khắp nơi. Sự sống của mỗi người bị cái đói đe dọa từng ngày. Trong bối cảnh xã hội đó, truyện Vợ nhặt lại được viết ra thì thật lạ. Một cuộc sống vợ chồng, một nguồn sống cho một mầm sống tương lai tại sao lại được bắt đầu ảm đạm và phấp phỏng như thế?

Nhà văn Kim Lân:

Dịch đói dạo đó thật khủng khiếp. Nhiều gia đình vừa có người chết đói, vừa có người bỏ đi, dần dần mất hẳn. Tôi tận mắt chứng kiến người chết đói nằm rải rác ở khắp nơi. Khi con người bị đẩy đến bờ vực cuối cùng của cuộc sống thì toàn bộ số phận và tính cách con người họ sẽ biểu lộ ra. Chết đói là một thực tế khốc liệt. Đó là cái chết từ từ, hao mòn dần, quằn quại dần. Tôi được biết nhiều chuyện qua những năm tháng đó. Cái đói hành hạ tất cả mọi người nhưng không át được sức sống đơn sơ của tâm hồn họ. Có những người đói ngày ngày bới rác tìm một mẩu thức ăn thừa, buổi tối họ lại về nằm cạnh nhau bàn tán về chuyện làng quê, chuyện mùa màng. Có người giữ nề nếp rất nghiêm dù đói khát, con cái đi xin mang phần về cho, ông ta vẫn áo the, đội khăn xếp ngồi giữa nhà để ăn. Có người đói xô vào cướp cám để ăn, bị đánh cũng chịu không đánh lại, họ biết rằng chuyện cướp cám của họ là sai nhưng họ vẫn phải làm vì đói. Nói tóm lại, bi kịch sống của mọi người vào thời điểm đó hầu như giống nhau: Đói. Nó vừa cay đắng, vừa đau đớn, đồng thời một mặt nào đó nó lại loé lên một tia sáng về đạo đức, danh dự. Truyện Vợ nhặt khai thác khía cạnh sau cùng của cái bi kịch ấy.

 

PV: Cái đói là đề tài của rất nhiều nhà văn. Cái đói trong Vợ nhặt có khác gì những cái đói khác mà các nhà văn thường mô tả?

Nhà văn Kim Lân:

“Cái đói” là mỗi lo lắng của con người ở tất cả mọi dân tộc và mọi thời đại. Cho nên đó là một đề tài cũng thuộc về bản chất của đời sống. Các nhà văn viết về cái đói ở khía cạnh tối tăm và bất lực của con người trước nó. Con người phạm tội và làm đủ mọi chuyện dại dột khác chỉ vì đói. Khi tôi viết, ý tưởng thường trực trong tôi là những người đói dù thế nào đi nữa vẫn luôn luôn khao khát cuộc sống tốt hơn, vẫn tin tưởng một cách mơ hồ vào cuộc sống tương lai. Cái “mơ hồ” ấy là do cuộc sống thực tại luôn hành hạ họ.

 

PV: Truyện ngắn Vợ nhặt được viết từ một tình huống có thật trong cuộc sống?

Nhà văn Kim Lân:

Ban đầu tôi viết một truyện dài có tên là Xóm ngụ cư. Tôi viết đến chương thứ V thì dừng lại. Sau khi hoà bình lập lại, tôi và Nguyên Hồng làm tờ báo Văn. Trong bản thảo Xóm ngụ cư có một đoạn luôn ám ảnh tôi là đoạn viết về những người đói, về những buổi sáng ở vùng quê người ta ra chợ nhặt xác người đi chôn. Tôi viết lại chương đó thành truyện ngắn Vợ nhặt mà không đọc lại bản thảo cũ. Chuyện Vợ nhặt hoàn toàn không có thực mà do tôi sáng tạo ra. Không thể có một bà mẹ như thế, một cô con dâu như thế trong đời sống thực. Tôi muốn phân tích tâm trạng và thân phận của con người trong cái hoàn cảnh cùng đường ấy, nơi cuộc sống dường như không còn lối thoát. Tôi muốn hướng họ vào sự sống, sự yêu thương nhau, không phải là sự giành giựt nhau. Hoàn cảnh đặc biệt quá nên câu chuyện là lạ đó lại được hiện ra với vẻ chân thật. Vợ nhặt được rút ra từ tập Con chó xấu xí, sau khi in ở tờ tuần báo Văn. Bối cảnh của truyện là khi cái đói hoành hành khắp nơi. Nhưng các nhân vật của truyện thì đứng ở ngưỡng cửa của cái đói. Nơi ngưỡng cửa khốn khổ đó, họ sẽ chứng tỏ số phận và tính cách của mình, đồng thời ở nơi đó họ sẽ bắt đầu một niềm tin mới, dù là rất mong manh.

Dân ngụ cư là dân đi ở đợ, không phải dân gốc nên thiệt thòi đủ thứ. Mở đầu truyện là mẩu hồi ức trước kia mỗi chiều có vẻ yên ả nhưng cái hồi ức này quá ngắn, trôi qua quá nhanh. Hiện tại là cảnh đói khát ủ rủ, cảnh những người ăn xin xanh xám như bóng ma, cảnh thây người chết nằm còng queo bên đường. Vậy mà một buổi chiều anh chàng Tràng trở về với một vẻ mặt có vẻ gì phởn phơ khác thường, một nụ cười tủm tỉm và hai mắt thì sáng lên lấp lánh, bên cạnh lại có người đàn bà rón rén e thẹn. Đó là một sự kiện quá ư lạ lùng giữa lúc người ta chỉ nghĩ đến sự sống – chết.

 

PV: Tràng khi đó có ý thức được việc mình làm?

Nhà văn Kim Lân:

Tràng là anh chàng kéo xe bò thuê, công việc bấp bênh. Trong thời buổi bấy giờ, hẳn Tràng chẳng dám nghĩ đến chuyện lấy vợ, vì thủ tục cưới cheo ngày đó rườm rà, tốn kém lắm. Vậy mà tự dưng anh chàng lại “nhặt” được vợ. Sự kiện nhặt vợ quá buồn cười. Chỉ là một câu đùa, ai cũng biết là đùa, vậy mà cô kia cũng theo. Điều đó chứng tỏ cô ta cùng đường và sẵn sàng xông vào, bấu víu vào bất cứ cái gì có thể bấu víu được. Còn Tràng, tại sao lại dẫn cô ta về? Vì Tràng là một người nông cạn, không biết tính toán như người khác, cũng không ý thức được về hoàn cảnh của mình. Anh ta chỉ chậc lưỡi, theo đúng cách của người hay ngửa mặt lên trời cười hềnh hệch. Đến lúc về tới xóm, trước ánh mắt, thái độ của dân xóm, Tràng mới kịp nhận ra sự thay đổi trong cuộc sống của mình. Anh ta chỉ cảm nhận sự thay đổi, còn ý nghĩa của nó như thế nào thì anh ta chưa thể hiểu.

 

PV: Nhưng nhân vật thứ hai, người đàn bà thì hẳn hiểu hoàn cảnh của mình?

Nhà văn Kim Lân:

Thị đã ở bờ vực. Số phận Thị đã rõ ràng và Thị hiểu được điều ấy. Cho nên thị đi bên Tràng mà đầu cúi xuống, chiếc nón rách nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị mặc cảm, gần như nỗi mặc cảm của người nhận lời bán mình trước sự chứng kiến của nhiều người khác. Chính thế nên khi đám trẻ con mới đùa một câu thị đã tỏ vẻ khó chịu.

 

PV: Tại sao việc Tràng và người đàn bà ngang qua xóm ngụ cư lại khiến cho những khuôn mặt hốc hác u tối từ những hiên nhà xác xơ đột nhiên rạng rỡ hẳn lên? Sự xuất hiện của Tràng và người vợ như thể thổi vào cuộc sống tăm tối tuyệt vọng của họ một luồng sinh khí tươi mát?

Nhà văn Kim Lân:

Trước kia, chiều nào Tràng cũng đi về qua xóm, nhưng hình ảnh đơn độc của Tràng không gây ra bất kỳ một xao động nào trong đời sống của cái xóm ngụ cư tồi tàn ấy. Sự biến đổi chốc lát như thế phụ thuộc vào hình ảnh người đàn bà bên Tràng. Mọi người bàn tán và cũng đôi phần đoán ra được câu chuyện của Tràng. Họ đoán được bằng chính hoàn cảnh của họ. Việc lấy vợ lấy chồng luôn là một niềm vui và quan trọng, nó chuẩn bị cho một cuộc sống khác, cuộc sống tương lai của đứa con. Nhìn Tràng và người đàn bà, bất chợt họ cũng mơ hồ mơ đến tương lai của chính họ. Tràng đã khiến cho họ tin vào cuộc sống thêm một chút. Nếu họ ý thức được niềm vui của mình trong giây lát đó, họ sẽ nghĩ rằng “Đó, anh ta không những còn sống mà còn nuôi thêm được một người nữa trong hoàn cảnh này”. Nhưng niềm vui trôi qua rất nhanh. Một tiếng ôi chao và lời than thở đưa họ về thực tại cuộc sống đói khát, cùng quẫn, họ nín lặng.

 

PV: Chuyện Tràng “nhặt” vợ là một sự lạ, nhưng mọi người như thể thừa nhận điều đó một cách dễ dàng?

Nhà văn Kim Lân:

Sự kiện đó chỉ gây ra sự tò mò một chút ban đầu thôi. Do hoàn cảnh khắc nghiệt của đời sống, mọi người không còn đủ sức để nhận ra điều đó là ngược đời. Và nó còn được dùng như một cái thước đo vô hình, kiểm lại cuộc sống hiện tại của họ. Nhưng câu chuyện của Tràng nhanh chóng không còn được bàn tán nữa khi họ cùng nín lặng hiểu ra số phận khắc nghiệt đang treo lơ lửng trên đầu họ.

 

PV: Khi người ta nhìn vào, bàn tán về mình, Tràng biết thế và lấy làm thích ý lắm, và hắn vênh vênh tự đắc với mình. Có lẽ đến lúc này Tràng mới hiểu rằng hành động của mình pha một chút anh hùng, kiêu bạc trong cuộc sống khó khăn hiện tại. Nhưng khi đi hết xóm ngụ cư thì Tràng lại đâm ra lo sợ, Tràng sợ vì nuôi mình không đủ lại phải đèo bồng thêm một người nữa ư?

Nhà văn Kim Lân:

Tràng không có nỗi sợ đó. Nỗi sợ của Tràng là nỗi sợ phải “một mình” đối diện với người đàn bà. Khi đi từ chợ tỉnh về, ngang qua xóm ngụ cư, những ánh mắt, tiếng cười của người khác đã làm cho Tràng bớt cảm thấy sự có mặt của người đàn bà.  Nhưng khi còn hai người ở con đường sâu thăm thẳm vắng vẻ thì rõ ràng người đàn bà kia là toàn  bộ cuộc sống bên ngoài đối với Tràng. Tràng phải tìm hiểu nó. Tràng ý thức đầy đủ sự có mặt của thị là dành cho Tràng. Hắn định nói với thị một vài câu rõ tình tứ mà chẳng biết nói thế nào. Hắn cứ lúng ta lúng túng, tay nọ xoa xoa vào vai kia. Tại sao vậy? Tại vì thực sự người đàn bà đi bên cạnh Tràng còn hoàn toàn xa lạ với Tràng.

 

PV: Tại sao thị không cảm thấy mà Tràng lại cảm thấy như thế?

Nhà văn Kim Lân:

Tôi có chủ ý không tả tâm trạng của người đàn bà khi đó. Nếu tả kỹ quá thị sẽ mất đi sự “xa lạ” không phù hợp với hoàn cảnh của câu chuyện. Sự yên lặng và xa lạ của thị khiến cho không gian như đọng lại và cho Tràng cảm thấy thị ở thật gần mình. Điều này khiến Tràng đột nhiên hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày. Tràng khi đó có lẽ đã quên tất cả, không phải với vẻ bất cần mà là do hình ảnh thị đã dần xâm nhập và chiếm trọn cõi lòng của Tràng. Ở người đàn ông nghèo khổ này cuộc sống đột nhiên mới mẻ và lạ lùng. Đó là cảm giác có thật, nó mơn man khắp da thịt. Có một điều thật ý nghĩa đang diễn ra với Tràng Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn và người đàn bà đi bên.

 

PV: Nhưng tên, hoàn cảnh, quê quán, cha mẹ thị Tràng đều chưa biết. Người đọc có cảm giác là “tình nghĩa” của Tràng đối với người đàn bà là không thật?

Nhà văn Kim Lân:

Người Việt rất coi trọng tình nghĩa, tuy nhiên để có tình nghĩa người ta cần phải có thời gian để thấu hiểu nhau. Đặt trong hoàn cảnh khốn khó lúc bấy giờ, khi mỗi người cần đến sự giúp đỡ nhiều hơn của người khác về cả vật chất lẫn tinh thần, thì Tràng là cái phao cuối cùng, là tất cả hy vọng của người đàn bà. Vậy cái nghĩa của Tràng là sự gắn kết giữa con người với con người trong một hoàn cảnh cấp bách. Hơn nữa đó còn là “nghĩa” của một người đàn ông nghèo không đủ khả năng lấy vợ bỗng dưng được một người đàn bà “ưng thuận về không” làm vợ. Và khi cảm thấy có “tình nghĩa” với người đàn bà thì sự đối diện của Tràng với chị ta không còn đáng sợ nữa.

 

PV: Hoàn cảnh đã xô đẩy người đàn bà đến với Tràng. Vậy giữa họ liệu có tình cảm thực sự không?

Nhà văn Kim Lân:

Sao lại không. Câu chuyện giữa hai người diễn ra như bất cứ với cặp tình nhân nào. Ban đầu là bắt chuyện vu vơ, rồi trêu chọc nhau. Khi câu chuyện ra chiều thân thân, người đàn bà đã tủm tỉm cười phá đi vẻ mặt cau có, ngượng ngập. Chị ta bắt đầu quen với hoàn cảnh mới. Và khi Tràng đùa “vợ mới vợ miếc” và cười cợt, thị đã “phát đánh đét” vào lưng hắn. Đây là cử chỉ “tỏ tình” của thị đối với ân nhân, nó đầy âu yếm và cũng đáng yêu. Nó là cho Tràng hạnh phúc. Anh chàng thích chín ngửa cổ cười khanh khách. Cuộc sống thường thật khốn khổ bị quên lãng. Với Tràng, thị là người đàn bà thứ hai sau mẹ annh yêu thương và cần đến anh. Yêu thương có thể chưa rõ nhưng cần thì đã rõ. Anh ta hớn hở vì điều đó. Riêng với người đàn bà, hiểu hoàn cảnh mình nên cử chỉ “tỏ tình” trên kia vừa hàm chứa sự biết ơn vừa tỏ thái độ ưng thuận.

 

PV: Một lần nữa sự khắc nghiệt của cuộc sống phá tan niềm vui mong manh của hai người, tiếng chó sủa váng lên làm Tràng thẹn thùng và xấu hổ, như thể có ai đó nhòm vào hạnh phúc của anh. Hình như Tràng hiểu ra rằng anh ta đang xây dựng hạnh phúc của mình trên nền một cuộc sống thật bất trắc và khốn đốn?

Nhà văn Kim Lân: Đúng là anh ta có cảm giác đó. Anh ta phải xua cái cảm giác đó đi bằng cách nhặt một hòn gạch vung tay ném mạnh một cái, như thể ném thẳng vào những thách thức đau đớn của cuộc sống. Tràng cảm thấy có lỗi đối với người đàn bà kia về chuyện không đủ tiền cưới xin,lỗi vì chưa xin phép mẹ, lỗi cả chuyện hoàn cảnh gia đình khốn đốn khó có thể cưu mang được thêm người nữa. Nhưng “ý nghĩ” này của Tràng chứng tỏ Tràng đã có nhiều tình cảm với thị lắm. Cái mặc cảm ấy bây giờ mới nhận ra khiến Tràng thốt lên Mẹ bố chúng mày cắn gì thế, cắn gì thế là tiếng chó sủa ngay trước cổng nhà Tràng , nơi Tràng phải thực sự đối mặt với tất cả những điều Tràng mặc cảm thấy.

 

PV: Đi đến cổng nhà Tràng người đàn bà nhìn quanh và cái ngực gầy lép nhô hẳn lên nén một tiếng thở dài. Phải chăng thị thất vọng vì sự nghèo túng thái quá mà căn nhà của Tràng đập vào mắt?

Nhà văn Kim Lân :

Không hẳn tiếng “thở dài” ấy là bởi nhìn thấy cảnh nghèo túng xác xơ của nhà Tràng. Thị chắc thừa hiểu và đoán được hoàn cảnh của một người đi kéo xe bò thuê. Thị theo về nhưng trong lòng thị vẫn chưa dứt khoát lắm. Thị theo như một sự liều mình. Nhưng khi đặt chân vào ngõ, khi không thể thêm lần thay đổi được tình cảnh, phải thực sự chấp nhận cuộc sống mới dù cuộc sống đó có thế nào đi nữa, thì một tiếng thở dài và không tránh khỏi.

 

Dẫn thị vào nhà, Tràng tỏ ra bối rối. Tràng quay lại nhìn thị cười cười cố tỏ vẻ tự nhiên cho thị và cũng cho cả mình, Tràng nói đùa: không có người đàn bà nhà cửa thế đấy Nghe câu đó thị lại nhếch mép cười nhạt nhẽo. Có lẽ, thị không hề có ý “khinh thị” cái từ nhà cửa mà Tràng gán cho túp lều tồi tàn của mình. Vậy thị “nhếch mép” vì điều gì?

Nhà văn Kim Lân:

Thị “nhếch mép” nhạt nhẽo vì ý khác. Thị tủi cho cái thân phận của thị, thân phận theo trai vì đói: thị biết thị theo Tràng chỉ vì đói và như thế không xứng đáng gì với tư cách người đàn bà trong gia đình Tràng vừa gán cho.

 

PV: Nhưng Tràng lại bối rối thật sự, Tràng sợ mất thị do hoàn cảnh của mình ư?

Nhà văn Kim Lân:

Đúng thế. Ở đây diễn ra một tình cảnh khá lạ lùng. Tràng “nhặt” được một người đàn bà nhưng rồi lại sợ mất thị. Cảnh nghèo đói đã hiện lên rõ ràng. Tràng thấy có tội vì đã che giấu mà không thể kể cho thị nghe trước. Sự im lặng của thị, nỗi mặc cảm của thị Tràng không hiểu nổi. Hơn nữa Tràng không thể tự quyết được tất cả mọi việc. Còn ý kiến của bà cụ Tứ nữa chứ. Liệu mẹ có đồng ý không? Sự chờ đợi mẹ về thật nặng nhọc với Tràng. Tràng đứng tây ngây ra giữa nhà một lúc rồi lấm lét bước vội ra sân. Tràng sợ rằng người đàn bà sẽ bất ngờ từ chối không làm vợ Tràng nữa. Tràng không dám trở lại nhà mà chỉ luẩn quẩn ở sân, ở ngõ. Một lần nữa, Tràng sợ đối diện với thị, nhưng không phải vì sự “xa lạ” như trước mà sợ sự “đột nhiên từ chối”.

 

PV: Khi viết, ý nghĩa ấy có lúc loé lên trong đầu ông không? Thị cũng có thể bỏ Tràng để đi ăn xin hay “theo” một kẻ khác khá hơn chứ?

Nhà văn Kim Lân:

Không bao giờ. Thị đã có sẵn mặc cảm về thân phận mình cho nên đã chấp nhận hoàn cảnh sống với đôi mắt vô hồn nhìn bần thần đâu đó. Thị chỉ dám ngồi ở mép giường. Sự ngồi mớm ở mép giường và hai tay vẫn không rời cái thúng, chứng tỏ thị hơn ai hết hỉu rõ số phận của mình.

 

PV: Trong tâm trạng bồn chồn của Tràng và sự tủi thân câm lặng của cô vợ, việc bà cụ Tứ trở về đã xua tan được không khí bế tắc. Tràng vui vẻ hẳn, còn người đàn bà lạ cất một câu chào ấp áp: U đã về ạ. Bà cụ Tứ có ngỡ ngàng chút ít, nhưng bà cũng đồng ý chóng vánh. Không thấy bà lục vấn hỏi han gì con trai, điều mà các bà mẹ thường làm. Vậy trong mạch truyện, sự đồng ý nhanh chóng của người mẹ có quá gượng ép?

Nhà văn Kim Lân:

Chúng ta nên hiểu tâm trạng của bà mẹ. Bà cụ Tứ ngay từ khi về đến nhà đã bị ngạc nhiên vì sự vui vẻ và chờ đợi nóng cả ruột của con trai mình. Bà càng ngạc nhiên khi có người đàn bà lạ ở trong nhà mà lại đứng ở đầu giường thằng con. Người đó lại chào bà bằng u. Cái cảnh đó chưa được giải thích đến nỗi bà cụ tưởng nhầm mình đang mơ thấy cái Đục – cô con gái đã chết hiện về. Và khi Tràng giải thích, bà nín lặng hiểu ra mọi chuyện. Bà tủi phận vì đã không xứng đáng là một người mẹ, không lo cho con một cách đàng hoàng như người khác. Hơn cả đứa con, bà hiểu rõ hơn hoàn cảnh của chúng. Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mới lấy mình. Mà con mình mới có vợ được bà nghĩ. Có thể bà hơi ngao ngán về chuyện đó một chút nhưng cảm giác hàm ơn đối với người đàn bà là nhiều hơn, người đã giúp bà “lo” cho con trai bà bằng cách làm vợ anh ta. Bà không dám tin rằng Chúng nó có nuôi nổi nhau qua được cơn đói khát này. Ý nghĩ về cuộc sống tương lai, và hiện tại gian nan có người đàn bà lạ tham dự vào một cách bà đồng ý với Tràng. Cuộc sống không cho họ đòi hỏi nhiều hơn. Dù họ có vật lộn, có làm khó dễ, có khó tính đòi hỏi điều này điều nọ thì câu trả lời cho họ vẫn là cái đói treo lơ lửng trước mặt.

 

PV: Tương lai của cặp vợ chồng mới nay như bóng tối trong con mắt bà. Bà lão đăm đăm nhìn ra ngoài. Bóng tối trùm lấy hai con mắt. Xen vào ý nghĩ tối tăm, hiện thực cuộc sống đồng thanh xác nhận điều đó bằng mùi trấu khét lẹt ở nhà những người chết. Bà nghĩ đến cuộc đời bà và ngầm so sánh với cuộc sống của cặp vợ chồng này. Chúng chỉ có một điểm chung là không một chút nào tươi sáng. Bà nhắc Con ngồi xuống đây. Lời nhắc này có ý nghĩa với lời chào thuận lòng của  người mẹ. Bà thực sự chấp nhận thị là con dâu bà hay do hoàn cảnh mà bà phải chấp nhận?

Nhà văn Kim Lân:

Cuộc gặp đầu tiên đó không có cái ý nghĩa “mẹ chồng con dâu”. Cái tình cảm chiếm nhiều nhất trong lòng bà cụ Tứ là tình cảm “thương xót” một người đàn bà cùng đường. Hơn nữa, có một nỗi “hàm ơn mơ hồ” luôn bám lấy bà. Người đàn bà đã giúp bà cái việc không thể làm cho con trai là lấy vợ cho anh ta.

 

PV: Ở đoạn văn này, tại sao tác giả lại không phân tích tâm trạng của người đàn bà, tâm trạng nơm nớp vì có lẽ bà cụ Tứ sẽ không bằng lòng?

Nhà văn Kim Lân:

Tôi vẫn có ý định không mô tả trực tiếp trạng thái tâm lý của người đàn bà. Tôi muốn qua cách nhìn của Tràng, của bà cụ Tứ để làm nổi bật lên sự hiện diện của chị. Ở đây, mỗi khi thay đổi cách gọi : người đàn bà, thị, ả là một lần “nhân vật vợ mới” thay đổi vị trí trong hai con người kia. Bà cụ không còn giấu cảm nghĩ của mình nữa. Bà kể lể về đám cưới với dăm ba mâm cỗ cho hàng xóm, họ hàng, nhưng nhà nghèonăm nay thì đói to nên chỉ cần chúng mày hoà hợp là u mừng. Sự thành thật xen lẫn nỗi đắng cay khiến bà khóc. Bà khóc vì lo cho cái hạnh phúc mong manh của con trai khó có thể giữ nổi trong cuộc sống đói khổ này.

 

PV: Tràng hồi hộp, háo hức chờ mẹ và khi bà cụ Tứ đồng ý , Tràng thở đánh phào một cái, như vừa trút hết gánh nặng. Như vậy là Tràng chính thức có vợ. Nhưng Tràng có hiểu được những giọt nước mắt của mẹ?

Nhà văn Kim Lân:

Tràng hiểu bà mẹ chỉ nhìn thấy ở việc mình có vợ những viễn cảnh tăm tối. Đó chính là điều đặc sắc của Tràng. Tràng tin tưởng ở mình, tin tưởng ở những điều tốt đẹp nẩy sinh từ lòng mình. Những điều đó không thể có một kết cục tệ hại được. Có thể là ý nghĩ nhất thời nhưng Tràng phải nhắc nhở mẹ và vợ về điều này.

 

PV: Và ngọn đèn Tràng thắp lên đã an ủi cả mấy người?

Nhà văn Kim Lân:

Tràng hầm hầm bước vào và đánh diêm đốt đèn. Hành động kiên quyết tạo ra một hình tượng Ngọn đèn tỏa sáng căn nhà tối tăm. Tại sao Tràng không thắp đèn ngay khi về nhà? Bởi Tràng chỉ thắp khi phải củng cố niềm tin dù là nhỏ nhoi cho người khác. Ngọn đèn vừa mang biểu tượng cho một tương lai tươi sáng, vừa liên kết gắn bó ba người lại với nhau – ba con người đói rách. Ngọn đèn là niềm yêu thương, cảm thông lẫn nhau để cùng vượt lên trên số phận buồn thương của họ. Và khi thấy sáng , bà lão vội vàng lau nước mắt. Rõ ràng là căn nhà và trong lòng bà lão đều tối như nhau. Ánh sáng như một lời hứa quyết tâm của người con trai gửi đến bà mẹ. Dầu đắt thế nhưng bởi có vợ mới nên con trai bà cũng mua được cơ mà. Tuy nhiên đèn sáng lên bà cũng chỉ “uể oải” đứng dậy đi nằm. Cái rạng rỡ của ánh sáng cũng chỉ là một viễn cảnh quá xa.

 

PV: Ánh sáng soi rõ lòng bà mẹ và một lần nữa ngọn đèn tỏa dọi vào cuộc sống chung của đôi vợ chồng mới?

Nhà văn Kim Lân: Thực tại luôn luôn kéo người ta lại với nó. Tiếng ai hờ khóc ngoài xóm lọt vào tỉ tê lúc to lúc nhỏ đã lấy mất không khí lãng mạn ngọn đèn vừa mang đến.Cả hai một lần nữa lại “sượng sùng” khộng biết nói gì. Hình ảnh thực nhất là hình ảnh “ngọn đèn” hạnh phúc tương lai soi rọi họ và kéo dài hai cái bóng trên vách. Hai cái bóng đó chính là cuộc sống thực của họ. Hai cái bóng lờ mờ, lê thê, khốn khổ. Sự thât trần trụi họ phải tiếp nhận là như thế.

 

PV: Đêm tân hôn của cặp vợ chồng là đêm hạnh phúc. Mọi khó khăn đều tạm thời quên đi. Hai người hưởng cái niềm vui tột cùng mà thiên nhiên trao tặng. Nhưng cái niềm vui ấy được bao quanh bởi tiếng khóc tỉ tê nghe càng rõ. Một đêm tân hôn trong tiếng khóc người chết và mùi trấu hun khê nồng. Tràng có cảm thấy hạnh phúc không?

Nhà văn Kim Lân:

Tôi tả đêm tân hôn trong hòan cảnh đó và để phân tích xem hạnh phúc tột cùng đó có chiến thắng cái đói không. Tràng hạnh phúc. Trong khung cảnh tăm tối và ghê rợn như thế nhưng niềm vui của con người vẫn không mất đi. Sáng hôm sau, Tràng thức dậy rất muộn khi mặt trời lên bằng con sào, chứng tỏ niềm hạnh phúc mà anh được nếm trải. Anh ta trở thành một con người khác. Một người chồng thực sự. Ánh nắng buổi sáng mùa hè sáng lóa xói vào hai con mắt của Tràng và mọi thứ bỗng nhiên thay đổi.

 

PV: Đó là thay đổi thực hay Tràng chỉ cảm thấy thế?

Nhà văn Kim Lân:

Cuộc sống thay đổi thực dù không nhiều với gia đình ấy. Tràng thấy mọi thứ mới mẻ, khác lạ. Nhà cửa, vườn tược được thu vén gọn gàng. Các lu đựng nước đầy ắp. Quần áo cũ được giặt giũ và phơi nắng. Một nếp sống khác bắt đầu xuất hiện. Người làm thay đổi nếp sống ấy là người vợ đang quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất. Cái âm thanh ấy, ngày thường Tràng cũng nghe nhưng chưa bao giờ gợi cảm như thế. Người vợ mới muốn quét mạnh tay để tạo ra những âm thanh rộn rã khẳng định sự có mặt của mình trong ngôi nhà.

 

PV: Cảnh tượng đó đã khiến Tràng thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Tràng là con, là chồng, Tràng có nhiều trách nhiệm hơn với ngôi nhà. Cái trách nhiệm, cái niềm vui của cuộc sống mới đã khiến cho Tràng có một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòngcũng muốn làm một việc gì để dự phần sửa lại căn nhà. Tất cả mọi người đều hiểu phải tiến gần nhau hơn?

Nhà văn Kim Lân:

Ở đây tôi không chủ tâm diễn tả cái đói mà là muốn thể hiện cuộc sống của một cặp vợ chồng mới trong nạn đói. Cho nên cuộc sống đói khổ chỉ là cái nền thôi. Tuy nhiên chính vì nó mà niềm vui của cặp vợ chồng luôn bấp bênh. Ở đây có một ẩn ý: Cả ba người đều không quên thực tại và cố gắng của họ là tìm thấy niềm vui trong cuộc sống tối tăm. Cái bữa ăn đầu tiên ba người ngồi ăn chung mang ý nghĩa như bữa “tiệc cưới” tội nghiệp. Giữa cái mẹt rách có độc một chùm rau chuối thái rối và một đĩa muối ăn với cháo. Sự tồi tàn của bữa ăn trong tương phản niềm vui của họ. Họ đều “n rất ngon lành vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn gia cảnh. Họ gắn bó nhau và yêu thương nhau hơn. Tràng trở nên ngoan ngoãn và nghe lời mẹ. Chưa bao giờ trong nhà này mẹ con lại hòa hợp thế. Tầm quan trọng của bữa ăn đầu thật rõ. Nhưng “tiệc cưới” kéo dài không lâu, mỗi người chỉ được hai lưng cháo “lõng bõng”. Màn cuối của bữa hoàn toàn phũ phàng khiến mọi người nhớ đến thực tại khắc nghiệt. Cô dâu đón lấy bát ăn và đưa lên mắt nhìn rồi hai con mắt thị tối lại vì cảm nhận tận cùng cái cơ cực của cuộc sống mới. Nhưng thị đã điềm nhiên và vào miệng. Đấy dù sao cũng là lối tốt nhất cho cuộc đời của thị.

 

PV: Nồi cháo cám đã đập tan không khí vui tươi ở phần đầu bữa ăn. Bữa cơm từ đấy không ai noí câu gì, họ cắm đầu ăn cho xong lần, họ tránh nhìn mặt nhau, một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mọi người. Trong sách văn học lớp 12, phần được trích giảng cũng dừng ở đoạn này. Câu văn dường như bóc nốt lượt cuối lớp vỏ bên ngoài của cuộc sống để cho cả ba thấy cái đắng chát, cái nghẹn bứ trong cổ. Cuộc sống không báo hiệu một tia hi vọng nào?

Nhà văn Kim Lân:

Thực ra với tứ truyện “Vợ nhặt” truyện nên kết thúc ở đây. Thâm tâm tôi cũng định thế nhưng do điều kiện của tờ báo bấy giờ, truyện mới được kéo dài ra thêm. Tôi muốn cho độc giả thấy dù hoàn cảnh thế nào đi nữa thì tình người vẫn vượt lên trên tất cả. Có tình người là có cuộc sống. Có tình người là có hy vọng vào tương lai.

 

PV: Thưa nhà văn, đoạn nào trong truyện là đoạn gây xúc động nhất cho riêng nhà văn?

Nhà văn Kim Lân:

Phần gây xúc động nhất cho tôi khi đọc lại truyện là đoạn bà cụ Tứ trở về. Ở đây tình của người mẹ thật lớn. Bà nhanh chóng hiểu rõ hoàn cảnh và chấp nhận ngay. Bà không chỉ thương con trai mà còn đầy lòng thương xót với người đàn bà cùng quẫn kia dù hoàn cảnh bà cũng không khá hơn lắm. Đó chính là bản chất nhân đạo trong tâm hồn con người Việt. Đó cũng là chủ đề của câu chuyện.

 

(Kim Lân, Vợ nhặt, in trong Tác giả nói về tác phẩm, Hỏi chuyện các tác giả có tác phẩm giảng dạy trong nhà trường, Nguyễn Quang Thiều chủ biên, Nxb Trẻ, 2000)

Người đóng góp
Nếu thích bài viết của Trần Nguyễn Nam Phương, hãy theo dõi trên
Những người thích bài viết này.
Show comments Hide comments
Comments to: Vợ nhặt
  • Tháng Hai 24, 2020

    Bài chi tiết lắm, thanks bạn

    Reply
    • Tháng Ba 5, 2020

      Cảm ơn bạn rất nhiều! Hi vọng là mình có thể phần nào giúp đỡ bạn trong việc học tập và mong bạn sẽ ủng hộ Lecttr dài dài nghennnnn <3

      Reply
  • Tháng Ba 2, 2020

    Mong bạn có thể bổ sung thêm bài phân tích các nhân vật, nghệ thuật… của vợ nhặt nữa, cảm ơn bạn

    Reply
    • Tháng Ba 5, 2020

      Cảm ơn bạn rất nhiều! Mình sẽ cố gắng bổ sung trong thời gian sớm nhất! Chúc bạn học tốt và mong bạn sẽ ủng hộ cho Lecttr dài dài nghennn <3

      Reply
Write a response

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Attach images - Only PNG, JPG, JPEG and GIF are supported.